Sau 15 năm tái lập (1997-2012), từ một địa phương thuần nông, còn nhiều khó khăn Vĩnh Phúc đã trở thành tỉnh có giá trị sản xuất công nghiệp lớn. Thu nhập bình quân đầu người năm 2011 đạt 42,9 triệu đồng/người/năm, gấp 15 lần thời điểm tái lập tỉnh. Mục tiêu đến năm 2015 Vĩnh Phúc sẽ cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp.

Nỗ lực trong phát triển kinh tế - xã hội

Sau 15 năm xây dựng và phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn đạt ở mức cao và tạo sự thay đổi sâu sắc, thúc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Tỉnh.                                                                       

Bình quân giai đoạn 1997-2011, tốc độ tăng trưởng GDP (giá trị tăng thêm theo giá cố định năm 1994) đạt 17,2%/năm, trong đó: công nghiệp - xây dựng tăng 29,3%/năm, dịch vụ tăng 16,4%/năm và nông - lâm nghiệp - thuỷ sản tăng 5,4%/năm. Giai đoạn 2001-2005, nhịp độ tăng bình quân đạt 15,02%/năm (cả nước tăng 7,51%/năm). Giai đoạn 2006-2010 nhịp độ tăng bình quân đạt 18,0%/năm (cả nước tăng 7,0%/năm). Dự kiến giai đoạn 2011-2015 nhịp độ tăng bình quân sẽ đạt 14-15%/năm.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp - dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản. Tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng tăng nhanh từ 18,6% năm 1997 lên 54,6% năm 2011; tỷ trọng ngành nông - lâm nghiệp - thuỷ sản giảm từ 44,1% năm 1997 xuống còn 15,5% năm 2011.

Cơ cấu kinh tế theo khu vực: tỷ trọngkhu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tăng nhanh từ 8,6% năm 1997 lên 39,9% năm 2011. Khu vực kinh tế ngoài nhà nước hoạt động ngày càng hiệu quả trên nhiều lĩnh vực, đến năm 2011 chiếm 41,6% cơ cấu nền kinh tế. Tỷ trọng khu vực kinh tế nhà nước có xu hướng giảm từ 21,5% năm 1997 xuống 18,5% năm 2011.

GDP bình quân đầu người (theo giá thực tế) liên tục tăng, năm 1997 mới chỉ đạt 2,13 triệu đồng/người (tương đương khoảng 180 USD/người), đến năm 2007 đã cao hơn so mức bình quân vùng Đồng bằng sông Hồng và mức bình quân cả nước;năm 2011 đạt 42,9 triệu đồng/người (tương đương khoảng 2.045 USD/người). Đến năm 2015, Tỉnh phấn đấu thu nhập bình quân đầu người đạt 75 triệu đồng/người/năm.

Thu ngân sách đạt kết quả cao, Tỉnh đã tự cân đối được ngân sách, nằm trong top đầu những tỉnh có số thu lớn nhất cả nước và là một trong 13 tỉnh có đóng góp ngân sách cho Trung ương. Năm 2011 thu ngân sách đạt 16.714,7 tỷ đồng, trong đó thu nội địa đạt 11.366,5 tỷ đồng.

Tam Đảo trong mây

Các lĩnh vực giáo dục đào tạo, dân số, việc làm và giảm nghèo, y tế và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, các hoạt động văn hóa xã hội khác cũng đều đạt được nhiều kết quả, góp phần quan trọng vào việc phát triển bền vững, nâng cao từng bước đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Tính đến hết năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo còn 8,7% (theo chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2011-2015); Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 54%; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 14%; Số bác sỹ/1 vạn dân đạt 7,2 bác sỹ; Số lao động được giải quyết việc làm đạt trên 21 nghìn lao động.

Những thành công trong phát triển kinh tế - xã hội đã tạo cho Vĩnh Phúc một vị thế mới tạo đà cho sự phát triển trong những năm tiếp theo.

Bước tiến trong xây dựng cơ sở hạ tầng

           Chủ trương của Tỉnh ủy đã nêu rõ, tầm nhìn đến năm 2050 Vĩnh Phúc sẽ hướng tới hình thành và phát triển đô thị lớn, bền vững, thành “nơi tất cả những người sống, làm việc, nghỉ dưỡng, tới thăm đều cảm thấy hạnh phúc!”.Vậy nên, hệ thống hạ tầng kỹ thuật của Tỉnh không ngừng được đầu tư, nâng cấp theo hướng hiện đại với 5 đường vành đai, các tuyến đường sắt và giao thông công cộng: xây dựng tuyến đường sắt nhẹ (LRT) Bắc Nam, xây dựng tuyến đường sắt du lịch Nội Bài – Vĩnh Phúc; tuyến xe buýt nhanh (BRT) (Phúc Yên-Vĩnh Yên)... Bên cạnh đó, các đô thị tỉnh Vĩnh Phúc sẽ được phân thành 3 vùng:

          (i) vùng đô thị, công nghiệp, dịch vụgồm toàn khu vực Thành phốVĩnh Yên, một phần thị xãPhúc Yên và một phần các huyện Bình Xuyên, Tam Dương, Yên Lạc, Vĩnh Tường. Tạo ra sự thịnh vượng bền vững cho Tỉnh, trên cơ sở xây dựng một đô thị phát triển kinh tế đi đôi với nâng cao đời sống xã hội, bảo vệ môi trường, đạt tiêu chuẩn của đô thị loại I giữ vai trò quan trọng trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và cả nước.

          (ii) Vùng phát triển nông lâm thủy sản gồm: Toàn khu vực các huyện Lập Thạch, Sông Lô, một phần các huyện Yên Lạc, Vĩnh Tường, Tam Dương.

          (iii) Vùng bảo tồn tự nhiên và phát triển du lịch gồm: Toàn khu vực huyện Tam Đảo, một phần thị xã Phúc Yên, một phần huyện Bình Xuyên. Phát triển các khu nghỉ dưỡng ven đô tiêu biểu của miền Bắc gắn với các vùng bảo vệ thiên nhiên, nơi có thể tiếp cận được với lịch sử và thiên nhiên trù phú. Ngoài ra, ở xung quanh khu vực đất xây dựng đô thị, bố trí vành đai xanh gắn kết với đất nông nghiệp và nông thôn, để hình thành vành đai xanh phát huy được bố trí sử dụng đất hiện hữu. Chiều rộng của vành đai xanh dọc các tuyến đường được thiết lập dựa theo hình thái đường và mục đích sử dụng đất ven đường. Vành đai xanh bao quanh ranh giới khu vực đất xây dựng đô thị được thiết lập chiều rộng từ 0,5 - 1km.

Đặc biệt, cơ sở vật chất trường học được nâng lên rõ rệt, nhiều trường học, lớp học được xây mới phục vụ tốt hơn cho nhu cầu học tập và nghiên cứu của học sinh, sinh viên. Các khu vui chơi, văn hóa thể thao được hình thành, nhiều công trình văn hóa được triển khai đầu tư như Tây Thiên, Chùa Hà, Nhà Thi đấu đa năng, Sân vận động, đưa vào sử dụng 15 Trung tâm VHTT, vui chơi giải trí Làng văn hóa trọng điểm… Trụ sở các cơ quan quản lý nhà nước được cải tạo, nâng cấp khang trang hơn, 100% trụ sở các xã, phường, thị trấn, các huyện, thành phố, thị xã được đầu tư từ 2-3 tầng. Hệ thống các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp được đầu tư khá đồng bộ, đến nay đã kiên cố xong toàn bộ kênh loại I, cơ bản xong kênh loại II và trên 30% kênh loại III...

 Đẩy mạnh thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp

Hệ thống cơ chế chính sách về thu hút đầu tư của Tỉnh ngày càng hoàn thiện, mặc dù có những thời điểm thu hút các dự án đầu tư gặp nhiều khó khăn, nhưng đánh giá chung cả giai đoạn 1997-2011, công tác thu hút đầu tư của Tỉnh đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tính đến hết năm 2011, trên địa bàn tỉnh có 618 dự án đầu tư còn hiệu lực, gồm 500 dự án DDI với tổng vốn đầu tư đăng ký là 26.478,8 tỷ đồng và 118 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 2.333,59 triệu USD; tỷ lệ lấp đầy tính trên diện tích đất công nghiệp đã thu hồi và giao đất xây dựng hạ tầng các Khu Công nghiệp (KCN) là 66,4%. Đồng thời, Tỉnh đã thu hút được 173,5 triệu USD; 223,76 tỷ đồng nguồn vốn ODA và 6,98 triệu USD nguồn vốn NGO, chiếm khoảng 7% tổng vốn đầu tư phát triển của Vĩnh Phúc, góp phần quan trọng bổ sung vào nguồn vốn đầu tư phát triển của Tỉnh.

Đáng chú ý, trong phát triển công nghiệp, Tỉnh đã xác định đúng hướng, có bước đi phù hợp, đưa ra những giải pháp phát triển mang tính đột phá, từ một tỉnh chỉ có 1 KCN đến nay đã hình thành được 20 KCN với quy mô 6.000 ha (trong đó có 7 khu công nghiệp đã được thành lập); thu hút 618 dự án đầu tư còn hiệu lực, gồm 500 dự án DDI và 118 dự án FDI, trong đó có nhiều tập đoàn lớn đã đến đầu tư tại Tỉnh, góp phần lớn trong tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách và giải quyết việc làm của Tỉnh. Tốc độ tăng giá trị sản xuất (theo giá cố định 1994) bình quân 15 năm đạt 38,5%/năm, trong đó công nghiệp khu vực nhà nước tăng 12,6%/năm, ngoài nhà nước tăng 28,3%/năm và khu vực FDI tăng 49,9%/năm.

          Bên cạnh đó, hệ thống các dự án quy hoạch phát triển, như: công nghiệp, điện lực, qy hoạch phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh... đã được lập, phê duyệt và điều chỉnh bổ sung, àm cơ sở quan trọng để phát triển ngành công nghiệp của Tỉnh. 

     Ngoài ra, hệ thống cơ sở hạ tầng trong và ngoài KCNcủa Tỉnh ngày càng được hoàn thiện và với phương châm “tất cả các nhà đầu tư đến Vĩnh Phúc đều là công dân của Vĩnh Phúc”, môi trường đầu tư của Tỉnh được các nhà đầu tư đánh giá cao, nhiều năm liền Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (CPI) luôn nằm trong top đầu của cả nước.

     Kết quả đạt được sau 15 năm tái lập, Tỉnh đã thu hút được một số tập đoàn, doanh nghiệp lớn đầu tư vào Tỉnh như tập đoàn điện tử Compal, Foxconn, Piaggio, Deawoo bus, gạch Prime, thép Việt Đức... và sản xuất ra những sản phẩm công nghiệp chủ lực, tạo công ăn việc làm cho hàng vạn lao động, đóng góp chủ yếu cho ngân sách tỉnh, gia tăng kim ngạch xuất khẩu.

Cùng với phát triển các KCN sản xuất tập trung, tiểu thủ công nghiệp làng nghề cũng được quan tâm đầu tư phát triển (hiện nay trên địa bàn đã quy hoạch 22 làng nghề), ngân sách Tỉnh đã thực hiện hỗ trợ khuyến khích đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cho 7 cụm công nghiệp làng nghề trên địa bàn tỉnh, với tổng kinh phí 21,95 tỷ đồng, hỗ trợ đào tạo nghề cho trên 4.200 lao động thuộc các ngành nghề thủ công, mỹ nghệ. Triển khai thực hiện các đề án hỗ trợ, nhân cấy phát triển nghề, một số làng nghề truyền thống đã và đang dần được khôi phục, phát triển như: đá Hải Lựu, rèn Lý Nhân, mộc Bích Chu, Thanh Lãng, Lũng Hạ, Minh Tân, đan lát Triệu Đề, gốm Hương Canh; ươm tơ, dệt lụa, mây tre đan xuất khẩu như: Nguyệt Đức, Trung Kiên, An Tường, Bắc Bình, Liễn Sơn… tạo thu nhập và giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động ở địa phương.

          Trước những khó khăn chung của nền kinh tế cả nước, Tỉnh đã vàđang đưa ra những giải pháp khắc phục những điểm còn hạn chế của từng ngành, lĩnh vực. Bên cạnh đó,từng bước bứt phá trong những lĩnh vực đã có thế mạnh, mở rộng xây dựng một môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi cho các nhà đầu tư và các doanh nghiệp đã, đang và sẽ đầu tư vào Vĩnh Phúc.

          Mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 xây dựng Vĩnh Phúc trở thành tỉnh có đủ các yếu tố cơ bản của một tỉnh công nghiệp; đến năm 2020 là tỉnh công nghiệp, trở thành một trong những trung tâm dịch vụ, du lịch của Vùng và cả nước, có những khu nghỉ dưỡng đạt tiêu chuẩn quốc tế và trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ này. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 2011-2020 đạt 14-15%/năm, trong đó: giai đoạn 2011-2015 đạt 14-15%, giai đoạn 2016-2020 đạt 14-14,5%. GDP bình quân đầu người (giá thực tế) đến năm 2015 đạt 3.500-4.000 USD, đến năm 2020 đạt khoảng 6.500-7.000 USD.

Trong phát triển công nghiệp, Tỉnh đã đưa ra những giải pháp phát triển mang tính đột phá, từ một tỉnh chỉ có 1 KCN đến nay đã hình thành được 20 KCN với quy mô 6.000 ha, thu hút 618 dự án đầu tư còn hiệu lực, trong đó có nhiều tập đoàn lớn đã đến đầu tư tại Tỉnh...

PV

Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 24 tháng 12/2012